Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Mênh mông biển Việt

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Kiều Thị Thanh
Ngày gửi: 17h:27' 15-11-2025
Dung lượng: 15.6 MB
Số lượt tải: 4
Người gửi: Kiều Thị Thanh
Ngày gửi: 17h:27' 15-11-2025
Dung lượng: 15.6 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
THIÊN
NHIÊN
ĐÂT
Nước
TA
HIÊN
NHIÊN
ĐẤT
Nước
NGUYỄN QUỐC TÍN - NGUYỄN HUY THANG - NGUYỄN NHƯ MAI
BIEN VIẸT
NHÀ X U Ấ T BẢN KIM Đ Ồ N G
TA
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyễn Quốc Tín
Mênh mông biển Việt/ Nguyễn Quốc Tín, Nguyễn Huy Thắng,
Nguyễn Như Mai. - H .: Kim Đổng. - 21 cm. - (Thiên nhiên đất nước ta)
T.1.-2015.-192tr.
ISBN 9786042058063
1. Biển 2. Đảo 3. Việt Nam
333.916409597-dc23
KDL0106p-CIP
Thiên nhiên đất nước ta - Mênh mông biển Việt - Tập 1
© Nguyễn Quốc Tín, Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Như Mai
Xuất bản theo Hợp đổng sử dụng tác phẩm
giữa nhóm Tác giả và Nhà xuất bản Kim Đổng, 2015
Bản quyền hình ảnh bìa, minh họa thuộc vể
Nhà xuất bản Kim Đồng, 2015
Vẽ bìa và minh họa; Nguyễn Doãn Sơn
Trình bày bìa: Tô Hồng Thủy
LỜI NÓI ĐẦU
Non - Sông, Đất-Nước, Giang - Sơn - tổ hợp hai từ ấy, hai
yếu tố ấy tạo nên một từ thiêng liêng: Tổ quốc.
Tổ quốc không chỉ là khái niệm chung chung, mơ hồ, mà
chính là sông là núi, là mảnh đất tổ tiên chúng ta đã tạo dựng
nên, đã dùng sức lao động để tô điểm và dùng máu xương để
bảo vệ.
Càng hiểu và bịết về thiên nhiên đất nước, ta càng thêm yêu,
thêm tự hào về Tổ quốc. Để có sự hiểu biết về non nước mình,
chúng ta phải học trong nhà trường, đọc trong sách báo và trải
nghiệm trong thực tế. Đồng thời, lại phải có ý thức thường xuyên
bồi bổ các kiến thức về địa lí, về thiên nhiên rất cần thiết cho mỗi
con người trong cuộc sống và cả trong công việc sau này. Bạn cân
biết về cương vực, lãnh thổ đất nước khi muốn đi vào nghiệp
văn chương, sử học, ngoại giao. Bạn cân thông thuộc địa hình,
địa mạo khi làm quy hoạch hay kiến trúc. Bạn càng cân nắm rõ
về sông, núi, biển, rừng của Tổ quốc nếu bạn làm nông nghiệp,
khai thác tài nguyên hay thương m ại... Khỏi phải nói, trong
cuộc sống hằng ngày, những kiến thức ấy giúp ích thê' nào khi
bạn đi du lịch khám phá; sự hiểu biết sẽ làm cho bạn có ấn
tượng sâu sắc hơn và thu lượm được nhiều điều bổ ích hơn sau
mỗi chuyến đi...
Bộ sách về thiên nhiên đất nước Việt Nam mà chúng tôi giới
thiệu với bạn đọc, đặc biệt với các bạn trẻ, chính là nhằm đem
đến những kiến thức bổ trợ giúp tàng cường vốn hiểu biết vê địa lí
của bạn, và - điểu này mới là mục đích chính của bộ sách - nhằm
khơi gợi tình yêu của mỗi người chúng ta đối với non sông đất
nước mình, bắt đâu từ ý thức tìm hiểu và nhận biết rõ về sông, núi
quê hương, biển, rừng Tổ quốc. Trước mắt, bộ sách sẽ bao gồm
bốn cuốn về núi non, sông ngòi, rừng và biển.
Mặc dù nhóm biên soạn đõ cố gàng sưu tầm tư liệu, cập
nhật những thông tin mới và viết sao cho thấu đáo, dễ hiểu, dễ
tiếp nhận, song chắc chân không tránh khỏi khiếm khuyết. Rất
mong bạn đọc góp ý bổ khuyết cho bộ sách. Xin chân thành
cảm ơn!
N H Ó M BIÊN SO Ạ N
BIỂN - TỪ KHÔNG
đ Ến c ó
Có một bài hát từ thuở lóp Một, ta đều nhớ nằm lòng:
Trái đất này là của chúng mình
Quả bóng xanh bay giữa trời xanh...
Rồi ta lớn lên. Cùng vói cơ thể, trí não ta phát triển.
Trí tò mò và sự khát khao hiểu biết thôi thúc ta vừa khám
phá cái mói, vừa xem lại những kiến thức cũ, mà có khi là
định kiến tù thuở ấu thơ để "chủih cho chuẩn". Bay lên
tròi cao, các nhà du hành vũ trụ đầu tiên trở về cho hay,
Trái đất xem ra không giống nhu lòi bài hát. Từ khoảng
không xa xăm nhìn bằng mắt thường, Trái đất giống như
một quả bưỏi màu da cam<^\ Không xanh, dù bề mặt Trái
đất đa số là biển và rừng. Không tròn trịa, mà hai đầu hoi
dẹt. Không nhẵn nhụi như quả bóng bay mà xù xì, lồi lõm.
Sao vậy rứiỉ?
Ta hãy quay trở lại quá khứ xa xưa của thòi hỗn mang.
(1) Cảm nhận của Gagarin trong chuyến du hành vũ trụ đẩu tiên, khi ông nhìn Trái đất
bằng mát thường. Nay, với những phương tiện kĩ thuật hiện đại, người ta có thể nhìn
thấy đến từng ngôi nhà dưới mặt đất.
THUỞ KHAI THIÊN LẬP ĐỊA
K ột quá khứ xa lăng lắc, cách nay 4,5 tỉ năm. Bấy giờ,
"giọt vũ trụ" bằng vật chất nóng đỏ, thành
phần không đồng nhất bị văng ra khỏi vầng Thái dưong
rực sáng, bắt đầu cuộc sống độc lập trong không gian
bao la. Hàng tỉ năm trôi qua, nó vẫn quay mê mải, vẫn
sôi sùng sục, vẫn phun phì phì như giận dữ, vung vãi
ra xung quanh những mảnh nhỏ hon và đủ kiểu bức xạ.
Khi quay xung quanh trục của nó, giọt chất lỏng đặc
quánh ấy dần dần biến dạng thành hìiứi cầu do tác động
của các định luật cơ học, nguội đi và đông đặc lại trong
khi vẫn chuyển động trên một quĩ đạo hình elip quanh
Mặt tròi đã sừứi ra mình.
"Giọt chất lỏng" ấy chứih là Trái đất của chúng ta.
Bao quanh nó là một lóp khí ga nóng rực. Lực hấp dẫn của
Mặt tròi gây ra hiện tượng thủy triều trên bề mặt lóp chất
lỏng quánh nhớt của hành tinh mói sữữi, nhưng bị cản trở
một phần do lực ma sát nội của các khối macma tạo nên
nó. Theo thòi gian, nó nguội đi, co lại, rồi rắn dần, hình
thành một lóp vỏ cirng trên bề mặt, nhăn nheo, lồi lõm
như một quả táo khô quắt chứ không tron nhẵn. Ruột nó
vẫn lỏng (đúng ra gần như quánh, gọi là plasma) và nóng
rực. Sự lồi lõm ấy cho ta có những hình dung đầu tiên về
địa hình. Nói chung chỗ lồi sau sẽ thành núi, thành đồi,
chỗ lõm sẽ là thung lũng, đáy hồ, đáy biển. Noi có độ cao
trung gian sẽ thàrửi lục địa, noi phẳng phiu sẽ thàrửi đồng
bằng, thảo nguyên.
Hàng tỉ năm lại trôi qua, biết bao quá trình địa chất
diễn ra ở cả trong ruột lẫn lóp vỏ aíng, đan xen nhau khiến
địa hình thay đổi liên tục, rồi đến một thòi điểm nhất định,
ta thấy nó như ngày nay trên "quả địa cầu" tròn xoe nhẵn
bóng, m hình xarứì đỏ được thầy cô mang ra dạy trên lóp:
một hình cầu tự xoay quanh một ữục nghiêng 23 độ 5, hai
đầu hoi dẹt (đường kừih giữa hai cực Bắc Nam nhỏ hon
đường kứih qua xích đạo 43 km)....
Bao quanh hành tữứì non trẻ là một lóp khí hỗn tạp.
Các khí nhẹ rứiư hidro thì một phần lớn "ữốn" khỏi sức
hút Trái đất, khuếch tán vào vũ trụ; các khí nặng như
cacbonic, hoi nước, nitơ... thì bị giữ lại, làm tấm áo che
chắn hành tinh, bảo vệ nó khỏi cái nắng đỏ lửa từ Mặt tròi,
ta gọi là bầu khí quyển.
Hành tinh nguội dần đi. Hoi nước trong khí quyển
đọng lại thành những đám mây khổng lồ chuyển động
vần vũ trên bầu tròi.
Đồng thòi vói các quá trình địa chất đang diễn ra
mãrứi liệt ữong lòng Trái đất dưới lóp vỏ cứng, nhiệt độ
bầu khí quyển hạ xuống dưói 100độ c. Hoi nước trở thành
thể lỏng, bắt đầu xảy ra hàng loạt hiện tượng khác. Những
trận bão lớn khủng khiếp, cuồng điên hoành hàĩữi dữ dội,
suốt hàng ngàn hàng vạn năm ữên quả địa cầu. Và mưa.
Mưa xối xả, mưa triền miên, mưa như trút nước. Những
trận mưa không diít, không chỉ kéo dài hàng tuần, hàng
tháng, hàng năm mà hàng thập kỉ, hàng thế kỉ, thậm chí
ròng rã hàng thiên niên kỉ.
Nước sao mà lắm thế! Nước ngấm vào lòng đất, len
lỏi mọi noi thành các mạch ngầm. Những dòng nước
lênh láng khắp chốn, tạo ra những con đại hồng thủy
theo đúng nghĩa, vói những dòng thác lũ, cứ ào ạt, cuồn
cuộn, sấn sổ đua nhau đổ từ chỗ cao xuống chỗ thấp, bất
chấp mọi trở lực ngăn cản, cuốn theo những gì không
trụ lại được, hòa tan những gì có thể hòa tan, bào mòn
những gì có thể bào mòn...
Diện mạo Trái đất thay đổi. Sông, suối hình thành.
Nước có đường đi vạch sẵn, cứ theo đó mà đổ ra những
vừng trũng lón, mênh mang, điền đầy dần và hình thành
nên biển và đại dương.
Ngưòi ta gọi đại dương là những vùng rộng lớn
ăn thông vói nhau (như Thái Bình Dương), còn biển là
những vùng hẹp hơn (như Biển Đông). Biển thông ra đại
dương. Ví dụ Biển Đông thông ra Thái Bình Dương và
Ấn Độ Dương. Nhiều khi hai khái niệm này cũng lẫn lộn
và ngưòi ta thường gọi chung là biển. Nhúng một ngón
chân xuống biển là ta đã được "nối liền" vói tất cả các đại
dương, vì biển trên Trái đất là khoảng không gian mênh
mông liên thông vói nhau. Trong thành ngữ dân gian,
ngưòi ta thường hình dung thế giói rộng lớn là "năm châu
bốn biển" thì biển ở đây chính là các đại dưong, mang tên
Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương và Bắc
Băng Dương.
ĐẠI DƯƠNG VÀ BIỂN
Trong bốn đại dương trên thế giới, Thái Bình Dương
rộng nhất, diện tích 179,7 triệu kilômet vuông (chiếm
khoảng 1/3 diện tích địa cầu, chứa 1/2 khối iượng nước
của cả hành tinh). Tiếp đến Đại Tây Dương, cố diện tích
102 triệu kilômet vuông với dòng hải lưu Gulf Stream sưởi
ấm cho cả Tây Âu. Ấn Độ Dương đứng thứ ba với diện tích
75 triệu kilômet vuông lốm đốm rất nhiều đảo san hô. Với
diện tích chỉ 14,09 triệu kilômet vuông, Bắc Băng Dương
nhỏ nhất và cũng hiền hòa nhất trong "bốn anh em nhà
đại dương", giữa là một băng khối nổi. Khi khí hậu nóng
lên, rất có thể khối băng này tan ra, gây ngập lụt toàn cầu
và trở thành thảm họa của nhân loại. Ngoài ra, còn Nam
Băng Dương với diện tích 20,327 triệu kilômet vuông, bao
quanh châu Nam Cực, được đề xuất như một đại dương
nhưng chưa được thừa nhận chung.
Cùng với bốn đại dương là 70 biển. Các biển lớn nhất
là biển San Hô, biển Đông, biển Caribean, Địa Trung Hải,
biển Bering, biển Okhotsk, biển Nhật Bản, biển Andaman...
Đa số biển liên thông với đại dương nhưng cũng cố những
biển kín như biển Caspi, Aran không thông với đại dương
nào, gọi là biển hồ. Nước ở biển hồ rất khác với nước đại
dương. Một số biển theo thói quen gọi là vịnh như vịnh
Hudson, vịnh Persic, vịnh Mexico. Biển chỉ chiếm trên 11 %
diện tích các đại dương.
NHỮNG CUỘC BỂ DÂU
ịa hình của lóp vỏ Trái đất thay đổi không ngừng
5ỊỊS^trong suốt mấy tỉ năm qua. Chỗ này trồi lên, chỗ
kia sụt xuống, các mảnh lục địa chuyển dịch, lúc thì tách
ra khỏi nhau, lúc lại sáp nhập vào hoặc điíng độc lập một
cách tương đối. Các khối dung rửiam dưói lóp vỏ đã đông
aíng của hành tữứi cũng không chịu nằm yên, liên tục
"cựa quậy", tìm những chỗ xung yếu để phá bung ra và
phun trào thành núi lửa...
"Thần Đất" và "Thần Biển" cũng luôn bị lôi cuốn vào
cuộc chiến giành giật lãnh thổ. Thủy triều tràn vào đất
liền, xói lở bờ và khi rút, cuốn theo các khoáng chất vụn.
Sóng xô bờ ngày đêm cùng vói các dòng hải lưu ven biển
càng làm tăng sức phá hoại của nước. Chưa thỏa mãn vói
sự công phá chứih diện, "Thần Biển" còn tung những đoàn
quân mây gây mưa vào sâu ữong đất liền để tiếp tục cuộc
chưửi phạt. "Đội quân mây" từ đại dương thường vẫn
bảng lảng trên đầu chúng ta ấy, nặng những 3.000.000.000
(3 tỉ) tấn cơ đấy! Những trận mưa nhỏ, những suối nước
róc rách trong rừng núi, những con sông tưỏng như rất đỗi
hiền lành... tất cả góp sức lại, họp thành những sức mạnh
khủng khiếp, nghiền nát ngay cả những khối đá lớn thành
cát sỏi và đất mịn, hòa tan các chất rồi cuốn chúng ra biển.
Dòng Mississippi ở Mĩ cứ ba năm rưõl lại bóc đi một
lượng vật liệu khỏi đất liền để đổ vào vịnh Mexico vói thể
tích lên tói 1 km^. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra khắp
noi noi, năm này qua năm khác. Các nhà địa lí Đan Mạch
ghi lại: Năm 1696, một nhà thờ lớn đưọc khánh thành ở
tửừi Agerhe cách bờ biển 650 m. Dường như không ưa
thích (hay ngược lại, do quá yêu thích) ngôi nhà thờ mĩ lệ
này, biển cứ tiến dần vào đất liền một cách thật kiên ữì, và
đến năm 1858, tức sau hon thế kỉ rưõi, biển đã nhấn chìm
nhà thờ, mang nó xuống lòng đại dương không để lại một
dấu tích. Tính ra, trong suốt thòi gian ấy, mỗi năm, biển
lấn chiếm tói hơn 4 m!
Nói đâu xa, ngay Phố Hiến của nước ta (nay là thành
phố Hưng Yên) cũng vậy. Noi đây từng là cảng biển sầm
uất bậc nhất trong thế kỉ 17 - Thứ nhất kinh kì, thứ nhì Phố
Hiến - như người ta vẫn nói. Nay cách biển tói gần 100 km!
Một dẫn chiỉng khác: Cách nay hơn 300 năm, Mạc
Ciiu, một thương nhân Trung Quốc phản đối triều đình
nhà Thanh, sang khai hoang lập nghiệp ở Hà Tiên. Con
ông là Mạc Thiên Tứ lập hội thơ Chiêu anh các, nổi tiếng
vói 10 bài thơ Hà Tiên thập vịnh, ca ngợi 10 thắng cảnh
noi đây. Trong đó, bài Kim Dữ lan đào vịrửi một hòn đảo
chắn sóng ở ngoài khoi, thì nay đảo này đã gắn vào đất
liền thành một ngọn núi - núi Kim Dữ. Xem ra, biển cũng
"công bằng", lấy đi ở noi này thì lại đền bù noi khác.
Có lẽ xuất phát từ hiện tượng này mà trong văn học
Trung Quốc có thành ngữ "thương hải biến vi tang điền"
(biển xanh hóa thành nương dâu) để chỉ những thăng
trầm, thay đổi trong cuộc đòi. Mượn điển tích đó, Nguyễn
Gia Thiều từng có câu thơ ai oán: "Trẻ tạo hóa đành hanh quá
ngán / Ai bày trò bãi bể nương dâu?" (Cung oán ngâm khúc).
Còn Nguyễn Du thì suy ngẫm về cuộc đòi: "Trải qua một
cuộc bể dâu / Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" (Truyện
Kiều).
Song các biến đổi trong mối tương quan Đất - Biển
đâu chỉ từ tốn kiểu "bãi bể, nương dâu" mà mãnh liệt hơn
nhiều. Vì đó mói chỉ là những vận động cơ học (bồi và lở),
chưa phải là những vận động kiến tạo học.
Vận động kiến tạo thật dữ dội. Do các quá hình địa
chất, các mảng lục địa xô đẩy vào nhau làm trồi lên núi
cao, tách giãn khỏi nhau tạo nên biển cả. Các nhà khoa
học khẳng định rằng, trong suốt 4,5 tỉ năm tồn tại của Trái
đất, hầu hết mọi noi trên thế giói đều có một giai đoạn nào
đó ngập chìm dưói các lóp sóng biển dạt dào. ở độ cao
2.300 m trên dãy Himalaya, ngưòi ta đã tìm thấy những
trầm tích đá vôi do vỏ ốc, xương và mai của các động vật
biển tạo nên. Tương tự như vậy, khi lặn xuống đáy biển,
người ta tìm thấy hóa thạch của các động vật chỉ sống ữên
cạn, hài cốt các gia súc lớn, rửiững thân cây cổ thụ, những
khối than bùn chỉ có thể hình thành trong các đầm lầy
nước ngọt, thậm chí cả các vật dụng thô sơ do bàn tay con
ngưòi tạo ra, chiíng tỏ khi trước đây từng là noi sũìh sống
của ngưòi tiền sử.
Một "dẫn chiíng sống" khác là nhiều động vật gốc
gác sống dưói nước, nay đã thích nghi vói cuộc sống trên
cạn và ngược lại, một số loài thú trên cạn sống sót khi bị
biển nhấn chìm, đã tự biến đổi cấu tạo cơ thể để chấp nhận
quê hương mói là đại dương (hải cẩu, hải tượng...).
Các nhà khoa học đã chỉ ra cách đây 200 triệu năm,
diện mạo các lục địa và đại dương khác hẳn. Chẳng hạn,
Nam Mĩ từng gắn vói châu Phi thành một khối liền; nếu
nhìn hai lục địa này trên bản đồ, dù ngày nay chúng bị
ngăn cách bỏi Đại Tây Dưong mênh mông, ta vẫn có thể
hình dung khóp được chiing vào vói nhau như hai miếng
ghép của trò choi ghép hừửi. Lại có giả thuyết cho rằng,
xưa kia từng tồn tại một lục địa mang tên Atlantis ở phía
đông nam Brazil vói nền văn minh khá cao, nhưng rồi đã
bị chìm dưói đại dương. Hiện nhiều nhà thám hiểm (kể cả
các cơ quan khoa học các nước như Brazil, Nhật Bản) vẫn
đang ra sức tìm kiếm và thủìh thoảng lại công bố những
kết quả đáng tin cậy.
Cho đến bây giờ, các châu lục vẫn tiếp tục "nhích"
dần từng tí một để gần nhau hơn hoặc xa nhau hơn, vói
tốc độ mỗi năm 1-2 cm. Chuyện nhỏ! - có thể bạn nghĩ.
Song nếu đo thòi gian bằng đơn vị "triệu năm" thì lại là
chuyện khác. Ví dụ 50 triệu năm nữa, vùng Sừng châu Phi
sẽ tách ra khỏi châu lục, vùng Alaska của Mĩ sẽ dứửi vào
Nga, bang Caliíomia sẽ ròi sang phía tây 300 km thành
một hòn đảo và Địa Trung Hải có thể cũng không còn...
Nhưng ta hãy tạm ngừng lan man về những "lộ truìh"
phức tạp của biển tứứi bằng mức thang cả triệu năm để
nói chuyện ngày nay, đặc biệt chuyện biển ở nước ta.
sự HÌNH THÀNH BIỂN v i ệ t
ri^ h á i Bình Dương là "anh cả" trong số bốn đại dương,
ra đòi sóm nhất, trên 600 triệu năm, trong khi đó Đại
Tây Dương có tuổi đòi trẻ hon, chừng 200 đến 300 triệu
năm. An Độ Dương trẻ nhất, chỉ mói 160 triệu năm.
Vào thuở Thái Bình Dương mói xuất hiện, vùng đất
nay là nước ta chìm ngập dưới nước biển mêrửi mông. Lúc
ấy, chỉ có một dải đảo nổi lên, nằm giữa sông Chảy và
sông Hồng ngày nay, đó là dãy núi Con Voi ở phía bắc.
Còn một hòn đảo lớn khác ở khu vực cao nguyên Kontum
- Bôlôven ở phía nam.
Chứih các lóp photphat canxi cùng vói bùn vôi ở
vùng biển nông phía tây Lào Cai đã tạo thành mỏ apatit
Cam Đường, mà từ nửa thế kỉ nay, chúng ta khai thác làm
nguyên liệu cho ngành công nghiệp phân lân phục vụ
nông nghiệp.
Trái đất cứ tiếp tục những con vặn mình mãnh liệt.
Các lóp đất đá uốn nếp, đùn đẩy nhau dâng cao thàrứi
núi. Biển rút dần xuống về phía Mặt tròi mọc. Mặt biển
lùi rất xa. Điều đó có nghĩa là cả vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái
Lan và các vùng lân cận đều trở thành đất liền. Giả sử
hồi ấy đã có loài ngưòi, nếu muốn sang thăm Malaysia,
Indonesia bạn nhất thiết phải đi bằng đường bộ. Ngay cả
dòng sông Hồng và cẻru Long thòi đó cũng chảy thẳng ra
ngoài xa trên các thềm lục địa khô cạn, bằng chứng là hiện
15
nay chiing ta vẫn thấy có những thimg lũng ngầm của các
dòng sông này dưói đáy biển.
Rồi bỗng nhiên, biển lại quằn quại ữở mình, bước vào
giai đoạn mói gọi là thòi kì "biển hến", ào ạt hon và cũng
nhanh chóng hơn. Trong suốt 10.000 năm (cách đây 17.000
đến 7.000 năm) nước biển dâng lên bao phủ vùng thềm
lục địa và "san lại" cho nó bằng phăng hon. Vào khoảng
6.000 năm đến 3.000 năm trước, mực nước đại dương cao
hon mức hiện nay từ 1,5 đến 3 m (hoặc hon). Ngưòi ta biết
được điều đó qua các dấu vết còn m đậm trên những đảo
ở Thái Bình Dương, cũng như ở nhiều đảo thuộc vịrứi Hạ
Long vẫn còn vết tích của những ngấn nước m lại từ buổi
xa xưa đó. Dễ thấy hon là nhũng đống vỏ sò điệp chất cao
thành gò rộng hàng vạn mét vuông mà những ngưòi Việt
cổ đã đổ ra khi sứữi sống ở vùng Quỳnh Lưu (Nghệ An),
cách xa bờ biển ngày nay khoảng 5-6 km.
Ngay thủ đô Hà Nội xưa kia cũng từng là đáy biển.
Sau khi biển rút, noi đây trở thành vùng đầm lầy, rồi
rừng rậm, trước khi được phù sa bồi đắp và bàn tay
con người cải tạo thành vùng đồng bằng sông Hồng trù
phú. Những lóp than bùn ở Đông Anh, Từ Liêm có độ
cao tưong đương mực nước biển hiện tại mách bảo cho
ta điều đó. Phủ lên lóp than bùn tại địa điểm Hà Nội
ngày nay là lóp phù sa sông Cái (tên cũ của sông Hồng)
gồm đất sét và đất sét pha, trên cùng là đất thịt.
Trải qua năm tháng, trên mảnh đất tiếp giáp vói Thái
Bình Dương ấy, một quốc gia hình thành và phát triển,
lưng dựa vào dải núi Trường Sơn chất ngất, mặt nhìn ra
biển, lô xô những đảo nổi, đảo chìm. Trải qua rứiững bão
tố, thăng trầm của nhiều nghìn năm lịch sử, quốc gia ấy
vẫn đứng vững và đang vươn lên làm chủ vận mệnh của
mình, hiên ngang vượt qua bao khó khăn thách thức để sát
cánh cùng bè bạn năm châu hướng tói TƯONG LAI. Đó
chừửi là đất nước Việt Nam của chiíng ta.
17
NHTOG TRANG sử
VIẾT TRÊN BIỂN
DẤU CHÂN VIỆT TRÊN BIỂN
''T^rên mảnh đất hình chữ s, phía đông cận kề vói biển,
^^MŨttông ra Thái B'ưứì Dưong, trong thòi kì "biển tiến"
có một số tộc ngưòi nguyên thủy từ vùng trung du bắt đầu
đến định cư. Họ ở trong các hang động có sẵn, sống bằng
săn bắt và hái lượm, dùng cuội sông để chế tác công cụ lao
động. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở vùng núi Đọ
(Thanh Hóa), Quỳnh Văn (Nghệ An), Hạ Long (Quảng
Nữih) và nhiều noi khác các di vật chiíng minh cho sự tồn
tại của những cộng đồng người sống tập trung ở ven biển,
cách nay trên dưói một vạn năm.
Truyền thuyết và huyền thoại không phải là lịch sử,
song sự tích Lạc Long Quân vốn dòng dõi Rồng, từ biển
tói, diệt Ngư tình, Mộc tinh, Hồ tinh, khai sáng miền châu
thổ sông Hồng đã nói lên rằng, đất nước ta từ buổi ban
đầu lập quốc đã gắn liền vói biển cả. Câu chuyện Lạc Long
Quân lấy Âu Cơ sinh bọc trăm tníng, rồi đưa 50 ngưòi con
trai theo mẹ lên núi, 50 người theo cha xuống biển cùng
nhiều câu chuyện khác vào đòi các vua Hùng, giúp ta
hhứì dung ra quá trình phát triển dân tộc Việt thòi tiền sử.
Họ đã từ các bộ tộc, tập họp thành một quốc gia sơ khai là
Văn Lang. Các bộ tộc này có tổ tiên xa xưa là ngưòi Việt cổ,
đã biết lọi dụng thủy triều dồn nước ngọt từ các sông ngòi
vào đồng ruộng, rồi ngăn lại để trồng lúa nước. Đồng thòi
họ cũng có cuộc sống gắn bó vói biển khoi. Họ không chỉ
khai thác sản vật biển làm nguồn thức ăn giàu đạm hàng
ngày, mà còn dùng những chiếc thuyền độc mộc hoặc bè
mảng bằng thân tre ghép lại để vượt biển đến các hòn đảo
xung quanh, thậm chí còn đến tận những vùng đất xa hơn
nữa ở Đông Nam Á.
Từ những tư liệu khảo cổ học về các nền văn hóa Đa
Bút (Ninh Bình), Hạ Long (Quảng Ninh), Cái Bèo (Hải
Phòng), Hoa Lộc (Thanh Hóa), Quỳnh Văn (Nghệ An),
Thạch Lạc (Hà Tĩnh), Bàu Tró (Quảng Bình)... các nhà
khoa học cho biết, khoảng 6.000 - 4.000 năm trước noi đây
đã có các cộng đồng cư dân mà cuộc sống liên quan chặt
chẽ vói biển. Ngưòi ta đã tìm thấy những "bãi rác bếp" rất
lớn gồm vỏ sò điệp, các di vật như chỉ lưói và một số ngư
cụ là những bằng chứng của nghề khai thác thủy sản dùng
trong bữa ăn hàng ngày.
Văn hóa Hạ Long có niên đại vào khoảng 4.000-3.500
năm trước được các nhà nghiên cứu xếp vào giai đoạn hậu
kì thòi đại đồ đá mói. Ngưòi tiền sử hồi đó đã chọn vùng
biển đảo Đông Bắc Việt Nam - noi có nguồn hải sản dồi
dào, lại có bãi biển và hang động thuận tiện - làm noi cư
trú. Biển ở đó nông, độ sâu trung bình chỉ khoảng 10 m,
vói 20 luồng lạch từ vịnh thông ra đại dương, dễ dàng
tránh gió và ra khoi vào lộng. Ngưòi ta đã tìm được
trong tầng văn hóa này những khúc xương cá to, ước
đoán nặng hàng tạ và không sống ven bờ. Các cư dân
còn biết đánh cá bằng lưói mà di vật còn lại là những
hòn chì lưói khá nặng. Ngoài cá, nhiều loại hải sản khác
cũng được khai thác vì khá nhiều vỏ rửiuyễn thể được
tìm thấy khi khai quật.
Không những đi biển giỏi, ngưòi cổ Hạ Long còn biết
làm nông nghiệp. Trong đòi sống của họ có cả các nông
cụ như cuốc, rìu... bằng đá, được chế tác bằng cách mài,
cưa, khoan, đánh bóng... Họ nắm được kĩ thuật sản xuất
đồ gốm bằng cách nhào đất vói vỏ nhuyễn thể giã nhỏ, rồi
khắc vẽ các hoa văn lên sản phẩm trước khi mmg. Nghề
trồng cây lấy sọi để đan lưói cũng là nghề thủ công phổ
biến. Nghề mộc khá phát hiển vói mục đích đóng thuyền
bè đi biển. Việc phát hiện ra khá lứiiều vật dụng gia đình
bằng gốm và tầng văn hóa dày dặn đã chứng minh họ
là những ngưòi định cư lâu dài, từng lập làng lập xóm.
Chừửi những tộc ngưòi cổ ở Hạ Long đã góp một phần
vào sự hình thàiứi dân tộc Việt hiện đại, tuy trước khi họ
đến định cư, ữên vùng biển Đông Bắc nước ta đã có cư
dân của các nền văn hóa sớm hon sinh tụ rứiư nền văn hóa
Soi Nhụ, Cái Bèo.
Trong khi ở miền Bắc nước ta đang thòi kì các vua
Hùng vói nhà nước Văn Lang và nền "văn mữih sông
20
Hồng", thì tiến dần về phía Nam, tại miền Trung có "văn
minh Sa Huỳnh" (tên một cửa biển ở Quảng Ngãi), ở vào
"thòi đại của các kurung", tiền thân của nhà nước Chămpa.
Cư dân Sa Huỳnh - chủ nhân nền văn hóa nổi tiếng cùng
tên - là những cư dân biển thực thụ, căn cứ vào các hiện
vật khai quật được ở ven biển và các đảo, từ Bắc Trung Bộ
đến Đông Nam Bộ. Xa hon chút nữa về phía Nam (và có
lẽ muộn hon một chút) tại đồng bằng sông Cửu Long xuất
hiện nền "văn hóa Đồng Nai" và "văn hóa Phù Nam - ó c
Eo" (tên một cửa biển cũ, nay thuộc Kiên Giang). Hiện
nay, cư dân Chămpa và Phù Nam đều được coi là sắc dân
trong cộng đồng dân tộc Việt.
Tói thòi đại đồ đồng và đồ sắt sớm (cách nay khoảng
2.000-2.500 năm) nền văn hoá Đông Son ra đòi và phát
triển rực rỡ dựa trên nền tảng của cả một quá trình hội tụ
lâu dài từ những nền văn hoá trước đó.
Ngưòi ta khai quật được ngày càng nhiều hai sản
phẩm văn hóa rất đặc trimg của ngưòi Việt cổ là những
chiếc "trống đồng Đông Son" và "đồ gốm Việt", không
chỉ ở lục địa (Lào, Campuchia, Thái Lan, Nam Trung
Hoa) mà cả trên những hải đảo Đông Nam Á (Malaysia,
Indonesia) cho tói tận đảo Phục Sinh ngoài khoi Thái Bình
Dưong. Những phát hiện khảo cổ học ở Đông Nam Á
liên quan đến trống đồng trong rứiững năm qua cho thấy
những dòn
NHIÊN
ĐÂT
Nước
TA
HIÊN
NHIÊN
ĐẤT
Nước
NGUYỄN QUỐC TÍN - NGUYỄN HUY THANG - NGUYỄN NHƯ MAI
BIEN VIẸT
NHÀ X U Ấ T BẢN KIM Đ Ồ N G
TA
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyễn Quốc Tín
Mênh mông biển Việt/ Nguyễn Quốc Tín, Nguyễn Huy Thắng,
Nguyễn Như Mai. - H .: Kim Đổng. - 21 cm. - (Thiên nhiên đất nước ta)
T.1.-2015.-192tr.
ISBN 9786042058063
1. Biển 2. Đảo 3. Việt Nam
333.916409597-dc23
KDL0106p-CIP
Thiên nhiên đất nước ta - Mênh mông biển Việt - Tập 1
© Nguyễn Quốc Tín, Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Như Mai
Xuất bản theo Hợp đổng sử dụng tác phẩm
giữa nhóm Tác giả và Nhà xuất bản Kim Đổng, 2015
Bản quyền hình ảnh bìa, minh họa thuộc vể
Nhà xuất bản Kim Đồng, 2015
Vẽ bìa và minh họa; Nguyễn Doãn Sơn
Trình bày bìa: Tô Hồng Thủy
LỜI NÓI ĐẦU
Non - Sông, Đất-Nước, Giang - Sơn - tổ hợp hai từ ấy, hai
yếu tố ấy tạo nên một từ thiêng liêng: Tổ quốc.
Tổ quốc không chỉ là khái niệm chung chung, mơ hồ, mà
chính là sông là núi, là mảnh đất tổ tiên chúng ta đã tạo dựng
nên, đã dùng sức lao động để tô điểm và dùng máu xương để
bảo vệ.
Càng hiểu và bịết về thiên nhiên đất nước, ta càng thêm yêu,
thêm tự hào về Tổ quốc. Để có sự hiểu biết về non nước mình,
chúng ta phải học trong nhà trường, đọc trong sách báo và trải
nghiệm trong thực tế. Đồng thời, lại phải có ý thức thường xuyên
bồi bổ các kiến thức về địa lí, về thiên nhiên rất cần thiết cho mỗi
con người trong cuộc sống và cả trong công việc sau này. Bạn cân
biết về cương vực, lãnh thổ đất nước khi muốn đi vào nghiệp
văn chương, sử học, ngoại giao. Bạn cân thông thuộc địa hình,
địa mạo khi làm quy hoạch hay kiến trúc. Bạn càng cân nắm rõ
về sông, núi, biển, rừng của Tổ quốc nếu bạn làm nông nghiệp,
khai thác tài nguyên hay thương m ại... Khỏi phải nói, trong
cuộc sống hằng ngày, những kiến thức ấy giúp ích thê' nào khi
bạn đi du lịch khám phá; sự hiểu biết sẽ làm cho bạn có ấn
tượng sâu sắc hơn và thu lượm được nhiều điều bổ ích hơn sau
mỗi chuyến đi...
Bộ sách về thiên nhiên đất nước Việt Nam mà chúng tôi giới
thiệu với bạn đọc, đặc biệt với các bạn trẻ, chính là nhằm đem
đến những kiến thức bổ trợ giúp tàng cường vốn hiểu biết vê địa lí
của bạn, và - điểu này mới là mục đích chính của bộ sách - nhằm
khơi gợi tình yêu của mỗi người chúng ta đối với non sông đất
nước mình, bắt đâu từ ý thức tìm hiểu và nhận biết rõ về sông, núi
quê hương, biển, rừng Tổ quốc. Trước mắt, bộ sách sẽ bao gồm
bốn cuốn về núi non, sông ngòi, rừng và biển.
Mặc dù nhóm biên soạn đõ cố gàng sưu tầm tư liệu, cập
nhật những thông tin mới và viết sao cho thấu đáo, dễ hiểu, dễ
tiếp nhận, song chắc chân không tránh khỏi khiếm khuyết. Rất
mong bạn đọc góp ý bổ khuyết cho bộ sách. Xin chân thành
cảm ơn!
N H Ó M BIÊN SO Ạ N
BIỂN - TỪ KHÔNG
đ Ến c ó
Có một bài hát từ thuở lóp Một, ta đều nhớ nằm lòng:
Trái đất này là của chúng mình
Quả bóng xanh bay giữa trời xanh...
Rồi ta lớn lên. Cùng vói cơ thể, trí não ta phát triển.
Trí tò mò và sự khát khao hiểu biết thôi thúc ta vừa khám
phá cái mói, vừa xem lại những kiến thức cũ, mà có khi là
định kiến tù thuở ấu thơ để "chủih cho chuẩn". Bay lên
tròi cao, các nhà du hành vũ trụ đầu tiên trở về cho hay,
Trái đất xem ra không giống nhu lòi bài hát. Từ khoảng
không xa xăm nhìn bằng mắt thường, Trái đất giống như
một quả bưỏi màu da cam<^\ Không xanh, dù bề mặt Trái
đất đa số là biển và rừng. Không tròn trịa, mà hai đầu hoi
dẹt. Không nhẵn nhụi như quả bóng bay mà xù xì, lồi lõm.
Sao vậy rứiỉ?
Ta hãy quay trở lại quá khứ xa xưa của thòi hỗn mang.
(1) Cảm nhận của Gagarin trong chuyến du hành vũ trụ đẩu tiên, khi ông nhìn Trái đất
bằng mát thường. Nay, với những phương tiện kĩ thuật hiện đại, người ta có thể nhìn
thấy đến từng ngôi nhà dưới mặt đất.
THUỞ KHAI THIÊN LẬP ĐỊA
K ột quá khứ xa lăng lắc, cách nay 4,5 tỉ năm. Bấy giờ,
"giọt vũ trụ" bằng vật chất nóng đỏ, thành
phần không đồng nhất bị văng ra khỏi vầng Thái dưong
rực sáng, bắt đầu cuộc sống độc lập trong không gian
bao la. Hàng tỉ năm trôi qua, nó vẫn quay mê mải, vẫn
sôi sùng sục, vẫn phun phì phì như giận dữ, vung vãi
ra xung quanh những mảnh nhỏ hon và đủ kiểu bức xạ.
Khi quay xung quanh trục của nó, giọt chất lỏng đặc
quánh ấy dần dần biến dạng thành hìiứi cầu do tác động
của các định luật cơ học, nguội đi và đông đặc lại trong
khi vẫn chuyển động trên một quĩ đạo hình elip quanh
Mặt tròi đã sừứi ra mình.
"Giọt chất lỏng" ấy chứih là Trái đất của chúng ta.
Bao quanh nó là một lóp khí ga nóng rực. Lực hấp dẫn của
Mặt tròi gây ra hiện tượng thủy triều trên bề mặt lóp chất
lỏng quánh nhớt của hành tinh mói sữữi, nhưng bị cản trở
một phần do lực ma sát nội của các khối macma tạo nên
nó. Theo thòi gian, nó nguội đi, co lại, rồi rắn dần, hình
thành một lóp vỏ cirng trên bề mặt, nhăn nheo, lồi lõm
như một quả táo khô quắt chứ không tron nhẵn. Ruột nó
vẫn lỏng (đúng ra gần như quánh, gọi là plasma) và nóng
rực. Sự lồi lõm ấy cho ta có những hình dung đầu tiên về
địa hình. Nói chung chỗ lồi sau sẽ thành núi, thành đồi,
chỗ lõm sẽ là thung lũng, đáy hồ, đáy biển. Noi có độ cao
trung gian sẽ thàrửi lục địa, noi phẳng phiu sẽ thàrửi đồng
bằng, thảo nguyên.
Hàng tỉ năm lại trôi qua, biết bao quá trình địa chất
diễn ra ở cả trong ruột lẫn lóp vỏ aíng, đan xen nhau khiến
địa hình thay đổi liên tục, rồi đến một thòi điểm nhất định,
ta thấy nó như ngày nay trên "quả địa cầu" tròn xoe nhẵn
bóng, m hình xarứì đỏ được thầy cô mang ra dạy trên lóp:
một hình cầu tự xoay quanh một ữục nghiêng 23 độ 5, hai
đầu hoi dẹt (đường kừih giữa hai cực Bắc Nam nhỏ hon
đường kứih qua xích đạo 43 km)....
Bao quanh hành tữứì non trẻ là một lóp khí hỗn tạp.
Các khí nhẹ rứiư hidro thì một phần lớn "ữốn" khỏi sức
hút Trái đất, khuếch tán vào vũ trụ; các khí nặng như
cacbonic, hoi nước, nitơ... thì bị giữ lại, làm tấm áo che
chắn hành tinh, bảo vệ nó khỏi cái nắng đỏ lửa từ Mặt tròi,
ta gọi là bầu khí quyển.
Hành tinh nguội dần đi. Hoi nước trong khí quyển
đọng lại thành những đám mây khổng lồ chuyển động
vần vũ trên bầu tròi.
Đồng thòi vói các quá trình địa chất đang diễn ra
mãrứi liệt ữong lòng Trái đất dưới lóp vỏ cứng, nhiệt độ
bầu khí quyển hạ xuống dưói 100độ c. Hoi nước trở thành
thể lỏng, bắt đầu xảy ra hàng loạt hiện tượng khác. Những
trận bão lớn khủng khiếp, cuồng điên hoành hàĩữi dữ dội,
suốt hàng ngàn hàng vạn năm ữên quả địa cầu. Và mưa.
Mưa xối xả, mưa triền miên, mưa như trút nước. Những
trận mưa không diít, không chỉ kéo dài hàng tuần, hàng
tháng, hàng năm mà hàng thập kỉ, hàng thế kỉ, thậm chí
ròng rã hàng thiên niên kỉ.
Nước sao mà lắm thế! Nước ngấm vào lòng đất, len
lỏi mọi noi thành các mạch ngầm. Những dòng nước
lênh láng khắp chốn, tạo ra những con đại hồng thủy
theo đúng nghĩa, vói những dòng thác lũ, cứ ào ạt, cuồn
cuộn, sấn sổ đua nhau đổ từ chỗ cao xuống chỗ thấp, bất
chấp mọi trở lực ngăn cản, cuốn theo những gì không
trụ lại được, hòa tan những gì có thể hòa tan, bào mòn
những gì có thể bào mòn...
Diện mạo Trái đất thay đổi. Sông, suối hình thành.
Nước có đường đi vạch sẵn, cứ theo đó mà đổ ra những
vừng trũng lón, mênh mang, điền đầy dần và hình thành
nên biển và đại dương.
Ngưòi ta gọi đại dương là những vùng rộng lớn
ăn thông vói nhau (như Thái Bình Dương), còn biển là
những vùng hẹp hơn (như Biển Đông). Biển thông ra đại
dương. Ví dụ Biển Đông thông ra Thái Bình Dương và
Ấn Độ Dương. Nhiều khi hai khái niệm này cũng lẫn lộn
và ngưòi ta thường gọi chung là biển. Nhúng một ngón
chân xuống biển là ta đã được "nối liền" vói tất cả các đại
dương, vì biển trên Trái đất là khoảng không gian mênh
mông liên thông vói nhau. Trong thành ngữ dân gian,
ngưòi ta thường hình dung thế giói rộng lớn là "năm châu
bốn biển" thì biển ở đây chính là các đại dưong, mang tên
Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương và Bắc
Băng Dương.
ĐẠI DƯƠNG VÀ BIỂN
Trong bốn đại dương trên thế giới, Thái Bình Dương
rộng nhất, diện tích 179,7 triệu kilômet vuông (chiếm
khoảng 1/3 diện tích địa cầu, chứa 1/2 khối iượng nước
của cả hành tinh). Tiếp đến Đại Tây Dương, cố diện tích
102 triệu kilômet vuông với dòng hải lưu Gulf Stream sưởi
ấm cho cả Tây Âu. Ấn Độ Dương đứng thứ ba với diện tích
75 triệu kilômet vuông lốm đốm rất nhiều đảo san hô. Với
diện tích chỉ 14,09 triệu kilômet vuông, Bắc Băng Dương
nhỏ nhất và cũng hiền hòa nhất trong "bốn anh em nhà
đại dương", giữa là một băng khối nổi. Khi khí hậu nóng
lên, rất có thể khối băng này tan ra, gây ngập lụt toàn cầu
và trở thành thảm họa của nhân loại. Ngoài ra, còn Nam
Băng Dương với diện tích 20,327 triệu kilômet vuông, bao
quanh châu Nam Cực, được đề xuất như một đại dương
nhưng chưa được thừa nhận chung.
Cùng với bốn đại dương là 70 biển. Các biển lớn nhất
là biển San Hô, biển Đông, biển Caribean, Địa Trung Hải,
biển Bering, biển Okhotsk, biển Nhật Bản, biển Andaman...
Đa số biển liên thông với đại dương nhưng cũng cố những
biển kín như biển Caspi, Aran không thông với đại dương
nào, gọi là biển hồ. Nước ở biển hồ rất khác với nước đại
dương. Một số biển theo thói quen gọi là vịnh như vịnh
Hudson, vịnh Persic, vịnh Mexico. Biển chỉ chiếm trên 11 %
diện tích các đại dương.
NHỮNG CUỘC BỂ DÂU
ịa hình của lóp vỏ Trái đất thay đổi không ngừng
5ỊỊS^trong suốt mấy tỉ năm qua. Chỗ này trồi lên, chỗ
kia sụt xuống, các mảnh lục địa chuyển dịch, lúc thì tách
ra khỏi nhau, lúc lại sáp nhập vào hoặc điíng độc lập một
cách tương đối. Các khối dung rửiam dưói lóp vỏ đã đông
aíng của hành tữứi cũng không chịu nằm yên, liên tục
"cựa quậy", tìm những chỗ xung yếu để phá bung ra và
phun trào thành núi lửa...
"Thần Đất" và "Thần Biển" cũng luôn bị lôi cuốn vào
cuộc chiến giành giật lãnh thổ. Thủy triều tràn vào đất
liền, xói lở bờ và khi rút, cuốn theo các khoáng chất vụn.
Sóng xô bờ ngày đêm cùng vói các dòng hải lưu ven biển
càng làm tăng sức phá hoại của nước. Chưa thỏa mãn vói
sự công phá chứih diện, "Thần Biển" còn tung những đoàn
quân mây gây mưa vào sâu ữong đất liền để tiếp tục cuộc
chưửi phạt. "Đội quân mây" từ đại dương thường vẫn
bảng lảng trên đầu chúng ta ấy, nặng những 3.000.000.000
(3 tỉ) tấn cơ đấy! Những trận mưa nhỏ, những suối nước
róc rách trong rừng núi, những con sông tưỏng như rất đỗi
hiền lành... tất cả góp sức lại, họp thành những sức mạnh
khủng khiếp, nghiền nát ngay cả những khối đá lớn thành
cát sỏi và đất mịn, hòa tan các chất rồi cuốn chúng ra biển.
Dòng Mississippi ở Mĩ cứ ba năm rưõl lại bóc đi một
lượng vật liệu khỏi đất liền để đổ vào vịnh Mexico vói thể
tích lên tói 1 km^. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra khắp
noi noi, năm này qua năm khác. Các nhà địa lí Đan Mạch
ghi lại: Năm 1696, một nhà thờ lớn đưọc khánh thành ở
tửừi Agerhe cách bờ biển 650 m. Dường như không ưa
thích (hay ngược lại, do quá yêu thích) ngôi nhà thờ mĩ lệ
này, biển cứ tiến dần vào đất liền một cách thật kiên ữì, và
đến năm 1858, tức sau hon thế kỉ rưõi, biển đã nhấn chìm
nhà thờ, mang nó xuống lòng đại dương không để lại một
dấu tích. Tính ra, trong suốt thòi gian ấy, mỗi năm, biển
lấn chiếm tói hơn 4 m!
Nói đâu xa, ngay Phố Hiến của nước ta (nay là thành
phố Hưng Yên) cũng vậy. Noi đây từng là cảng biển sầm
uất bậc nhất trong thế kỉ 17 - Thứ nhất kinh kì, thứ nhì Phố
Hiến - như người ta vẫn nói. Nay cách biển tói gần 100 km!
Một dẫn chiỉng khác: Cách nay hơn 300 năm, Mạc
Ciiu, một thương nhân Trung Quốc phản đối triều đình
nhà Thanh, sang khai hoang lập nghiệp ở Hà Tiên. Con
ông là Mạc Thiên Tứ lập hội thơ Chiêu anh các, nổi tiếng
vói 10 bài thơ Hà Tiên thập vịnh, ca ngợi 10 thắng cảnh
noi đây. Trong đó, bài Kim Dữ lan đào vịrửi một hòn đảo
chắn sóng ở ngoài khoi, thì nay đảo này đã gắn vào đất
liền thành một ngọn núi - núi Kim Dữ. Xem ra, biển cũng
"công bằng", lấy đi ở noi này thì lại đền bù noi khác.
Có lẽ xuất phát từ hiện tượng này mà trong văn học
Trung Quốc có thành ngữ "thương hải biến vi tang điền"
(biển xanh hóa thành nương dâu) để chỉ những thăng
trầm, thay đổi trong cuộc đòi. Mượn điển tích đó, Nguyễn
Gia Thiều từng có câu thơ ai oán: "Trẻ tạo hóa đành hanh quá
ngán / Ai bày trò bãi bể nương dâu?" (Cung oán ngâm khúc).
Còn Nguyễn Du thì suy ngẫm về cuộc đòi: "Trải qua một
cuộc bể dâu / Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" (Truyện
Kiều).
Song các biến đổi trong mối tương quan Đất - Biển
đâu chỉ từ tốn kiểu "bãi bể, nương dâu" mà mãnh liệt hơn
nhiều. Vì đó mói chỉ là những vận động cơ học (bồi và lở),
chưa phải là những vận động kiến tạo học.
Vận động kiến tạo thật dữ dội. Do các quá hình địa
chất, các mảng lục địa xô đẩy vào nhau làm trồi lên núi
cao, tách giãn khỏi nhau tạo nên biển cả. Các nhà khoa
học khẳng định rằng, trong suốt 4,5 tỉ năm tồn tại của Trái
đất, hầu hết mọi noi trên thế giói đều có một giai đoạn nào
đó ngập chìm dưói các lóp sóng biển dạt dào. ở độ cao
2.300 m trên dãy Himalaya, ngưòi ta đã tìm thấy những
trầm tích đá vôi do vỏ ốc, xương và mai của các động vật
biển tạo nên. Tương tự như vậy, khi lặn xuống đáy biển,
người ta tìm thấy hóa thạch của các động vật chỉ sống ữên
cạn, hài cốt các gia súc lớn, rửiững thân cây cổ thụ, những
khối than bùn chỉ có thể hình thành trong các đầm lầy
nước ngọt, thậm chí cả các vật dụng thô sơ do bàn tay con
ngưòi tạo ra, chiíng tỏ khi trước đây từng là noi sũìh sống
của ngưòi tiền sử.
Một "dẫn chiíng sống" khác là nhiều động vật gốc
gác sống dưói nước, nay đã thích nghi vói cuộc sống trên
cạn và ngược lại, một số loài thú trên cạn sống sót khi bị
biển nhấn chìm, đã tự biến đổi cấu tạo cơ thể để chấp nhận
quê hương mói là đại dương (hải cẩu, hải tượng...).
Các nhà khoa học đã chỉ ra cách đây 200 triệu năm,
diện mạo các lục địa và đại dương khác hẳn. Chẳng hạn,
Nam Mĩ từng gắn vói châu Phi thành một khối liền; nếu
nhìn hai lục địa này trên bản đồ, dù ngày nay chúng bị
ngăn cách bỏi Đại Tây Dưong mênh mông, ta vẫn có thể
hình dung khóp được chiing vào vói nhau như hai miếng
ghép của trò choi ghép hừửi. Lại có giả thuyết cho rằng,
xưa kia từng tồn tại một lục địa mang tên Atlantis ở phía
đông nam Brazil vói nền văn minh khá cao, nhưng rồi đã
bị chìm dưói đại dương. Hiện nhiều nhà thám hiểm (kể cả
các cơ quan khoa học các nước như Brazil, Nhật Bản) vẫn
đang ra sức tìm kiếm và thủìh thoảng lại công bố những
kết quả đáng tin cậy.
Cho đến bây giờ, các châu lục vẫn tiếp tục "nhích"
dần từng tí một để gần nhau hơn hoặc xa nhau hơn, vói
tốc độ mỗi năm 1-2 cm. Chuyện nhỏ! - có thể bạn nghĩ.
Song nếu đo thòi gian bằng đơn vị "triệu năm" thì lại là
chuyện khác. Ví dụ 50 triệu năm nữa, vùng Sừng châu Phi
sẽ tách ra khỏi châu lục, vùng Alaska của Mĩ sẽ dứửi vào
Nga, bang Caliíomia sẽ ròi sang phía tây 300 km thành
một hòn đảo và Địa Trung Hải có thể cũng không còn...
Nhưng ta hãy tạm ngừng lan man về những "lộ truìh"
phức tạp của biển tứứi bằng mức thang cả triệu năm để
nói chuyện ngày nay, đặc biệt chuyện biển ở nước ta.
sự HÌNH THÀNH BIỂN v i ệ t
ri^ h á i Bình Dương là "anh cả" trong số bốn đại dương,
ra đòi sóm nhất, trên 600 triệu năm, trong khi đó Đại
Tây Dương có tuổi đòi trẻ hon, chừng 200 đến 300 triệu
năm. An Độ Dương trẻ nhất, chỉ mói 160 triệu năm.
Vào thuở Thái Bình Dương mói xuất hiện, vùng đất
nay là nước ta chìm ngập dưới nước biển mêrửi mông. Lúc
ấy, chỉ có một dải đảo nổi lên, nằm giữa sông Chảy và
sông Hồng ngày nay, đó là dãy núi Con Voi ở phía bắc.
Còn một hòn đảo lớn khác ở khu vực cao nguyên Kontum
- Bôlôven ở phía nam.
Chứih các lóp photphat canxi cùng vói bùn vôi ở
vùng biển nông phía tây Lào Cai đã tạo thành mỏ apatit
Cam Đường, mà từ nửa thế kỉ nay, chúng ta khai thác làm
nguyên liệu cho ngành công nghiệp phân lân phục vụ
nông nghiệp.
Trái đất cứ tiếp tục những con vặn mình mãnh liệt.
Các lóp đất đá uốn nếp, đùn đẩy nhau dâng cao thàrứi
núi. Biển rút dần xuống về phía Mặt tròi mọc. Mặt biển
lùi rất xa. Điều đó có nghĩa là cả vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái
Lan và các vùng lân cận đều trở thành đất liền. Giả sử
hồi ấy đã có loài ngưòi, nếu muốn sang thăm Malaysia,
Indonesia bạn nhất thiết phải đi bằng đường bộ. Ngay cả
dòng sông Hồng và cẻru Long thòi đó cũng chảy thẳng ra
ngoài xa trên các thềm lục địa khô cạn, bằng chứng là hiện
15
nay chiing ta vẫn thấy có những thimg lũng ngầm của các
dòng sông này dưói đáy biển.
Rồi bỗng nhiên, biển lại quằn quại ữở mình, bước vào
giai đoạn mói gọi là thòi kì "biển hến", ào ạt hon và cũng
nhanh chóng hơn. Trong suốt 10.000 năm (cách đây 17.000
đến 7.000 năm) nước biển dâng lên bao phủ vùng thềm
lục địa và "san lại" cho nó bằng phăng hon. Vào khoảng
6.000 năm đến 3.000 năm trước, mực nước đại dương cao
hon mức hiện nay từ 1,5 đến 3 m (hoặc hon). Ngưòi ta biết
được điều đó qua các dấu vết còn m đậm trên những đảo
ở Thái Bình Dương, cũng như ở nhiều đảo thuộc vịrứi Hạ
Long vẫn còn vết tích của những ngấn nước m lại từ buổi
xa xưa đó. Dễ thấy hon là nhũng đống vỏ sò điệp chất cao
thành gò rộng hàng vạn mét vuông mà những ngưòi Việt
cổ đã đổ ra khi sứữi sống ở vùng Quỳnh Lưu (Nghệ An),
cách xa bờ biển ngày nay khoảng 5-6 km.
Ngay thủ đô Hà Nội xưa kia cũng từng là đáy biển.
Sau khi biển rút, noi đây trở thành vùng đầm lầy, rồi
rừng rậm, trước khi được phù sa bồi đắp và bàn tay
con người cải tạo thành vùng đồng bằng sông Hồng trù
phú. Những lóp than bùn ở Đông Anh, Từ Liêm có độ
cao tưong đương mực nước biển hiện tại mách bảo cho
ta điều đó. Phủ lên lóp than bùn tại địa điểm Hà Nội
ngày nay là lóp phù sa sông Cái (tên cũ của sông Hồng)
gồm đất sét và đất sét pha, trên cùng là đất thịt.
Trải qua năm tháng, trên mảnh đất tiếp giáp vói Thái
Bình Dương ấy, một quốc gia hình thành và phát triển,
lưng dựa vào dải núi Trường Sơn chất ngất, mặt nhìn ra
biển, lô xô những đảo nổi, đảo chìm. Trải qua rứiững bão
tố, thăng trầm của nhiều nghìn năm lịch sử, quốc gia ấy
vẫn đứng vững và đang vươn lên làm chủ vận mệnh của
mình, hiên ngang vượt qua bao khó khăn thách thức để sát
cánh cùng bè bạn năm châu hướng tói TƯONG LAI. Đó
chừửi là đất nước Việt Nam của chiíng ta.
17
NHTOG TRANG sử
VIẾT TRÊN BIỂN
DẤU CHÂN VIỆT TRÊN BIỂN
''T^rên mảnh đất hình chữ s, phía đông cận kề vói biển,
^^MŨttông ra Thái B'ưứì Dưong, trong thòi kì "biển tiến"
có một số tộc ngưòi nguyên thủy từ vùng trung du bắt đầu
đến định cư. Họ ở trong các hang động có sẵn, sống bằng
săn bắt và hái lượm, dùng cuội sông để chế tác công cụ lao
động. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở vùng núi Đọ
(Thanh Hóa), Quỳnh Văn (Nghệ An), Hạ Long (Quảng
Nữih) và nhiều noi khác các di vật chiíng minh cho sự tồn
tại của những cộng đồng người sống tập trung ở ven biển,
cách nay trên dưói một vạn năm.
Truyền thuyết và huyền thoại không phải là lịch sử,
song sự tích Lạc Long Quân vốn dòng dõi Rồng, từ biển
tói, diệt Ngư tình, Mộc tinh, Hồ tinh, khai sáng miền châu
thổ sông Hồng đã nói lên rằng, đất nước ta từ buổi ban
đầu lập quốc đã gắn liền vói biển cả. Câu chuyện Lạc Long
Quân lấy Âu Cơ sinh bọc trăm tníng, rồi đưa 50 ngưòi con
trai theo mẹ lên núi, 50 người theo cha xuống biển cùng
nhiều câu chuyện khác vào đòi các vua Hùng, giúp ta
hhứì dung ra quá trình phát triển dân tộc Việt thòi tiền sử.
Họ đã từ các bộ tộc, tập họp thành một quốc gia sơ khai là
Văn Lang. Các bộ tộc này có tổ tiên xa xưa là ngưòi Việt cổ,
đã biết lọi dụng thủy triều dồn nước ngọt từ các sông ngòi
vào đồng ruộng, rồi ngăn lại để trồng lúa nước. Đồng thòi
họ cũng có cuộc sống gắn bó vói biển khoi. Họ không chỉ
khai thác sản vật biển làm nguồn thức ăn giàu đạm hàng
ngày, mà còn dùng những chiếc thuyền độc mộc hoặc bè
mảng bằng thân tre ghép lại để vượt biển đến các hòn đảo
xung quanh, thậm chí còn đến tận những vùng đất xa hơn
nữa ở Đông Nam Á.
Từ những tư liệu khảo cổ học về các nền văn hóa Đa
Bút (Ninh Bình), Hạ Long (Quảng Ninh), Cái Bèo (Hải
Phòng), Hoa Lộc (Thanh Hóa), Quỳnh Văn (Nghệ An),
Thạch Lạc (Hà Tĩnh), Bàu Tró (Quảng Bình)... các nhà
khoa học cho biết, khoảng 6.000 - 4.000 năm trước noi đây
đã có các cộng đồng cư dân mà cuộc sống liên quan chặt
chẽ vói biển. Ngưòi ta đã tìm thấy những "bãi rác bếp" rất
lớn gồm vỏ sò điệp, các di vật như chỉ lưói và một số ngư
cụ là những bằng chứng của nghề khai thác thủy sản dùng
trong bữa ăn hàng ngày.
Văn hóa Hạ Long có niên đại vào khoảng 4.000-3.500
năm trước được các nhà nghiên cứu xếp vào giai đoạn hậu
kì thòi đại đồ đá mói. Ngưòi tiền sử hồi đó đã chọn vùng
biển đảo Đông Bắc Việt Nam - noi có nguồn hải sản dồi
dào, lại có bãi biển và hang động thuận tiện - làm noi cư
trú. Biển ở đó nông, độ sâu trung bình chỉ khoảng 10 m,
vói 20 luồng lạch từ vịnh thông ra đại dương, dễ dàng
tránh gió và ra khoi vào lộng. Ngưòi ta đã tìm được
trong tầng văn hóa này những khúc xương cá to, ước
đoán nặng hàng tạ và không sống ven bờ. Các cư dân
còn biết đánh cá bằng lưói mà di vật còn lại là những
hòn chì lưói khá nặng. Ngoài cá, nhiều loại hải sản khác
cũng được khai thác vì khá nhiều vỏ rửiuyễn thể được
tìm thấy khi khai quật.
Không những đi biển giỏi, ngưòi cổ Hạ Long còn biết
làm nông nghiệp. Trong đòi sống của họ có cả các nông
cụ như cuốc, rìu... bằng đá, được chế tác bằng cách mài,
cưa, khoan, đánh bóng... Họ nắm được kĩ thuật sản xuất
đồ gốm bằng cách nhào đất vói vỏ nhuyễn thể giã nhỏ, rồi
khắc vẽ các hoa văn lên sản phẩm trước khi mmg. Nghề
trồng cây lấy sọi để đan lưói cũng là nghề thủ công phổ
biến. Nghề mộc khá phát hiển vói mục đích đóng thuyền
bè đi biển. Việc phát hiện ra khá lứiiều vật dụng gia đình
bằng gốm và tầng văn hóa dày dặn đã chứng minh họ
là những ngưòi định cư lâu dài, từng lập làng lập xóm.
Chừửi những tộc ngưòi cổ ở Hạ Long đã góp một phần
vào sự hình thàiứi dân tộc Việt hiện đại, tuy trước khi họ
đến định cư, ữên vùng biển Đông Bắc nước ta đã có cư
dân của các nền văn hóa sớm hon sinh tụ rứiư nền văn hóa
Soi Nhụ, Cái Bèo.
Trong khi ở miền Bắc nước ta đang thòi kì các vua
Hùng vói nhà nước Văn Lang và nền "văn mữih sông
20
Hồng", thì tiến dần về phía Nam, tại miền Trung có "văn
minh Sa Huỳnh" (tên một cửa biển ở Quảng Ngãi), ở vào
"thòi đại của các kurung", tiền thân của nhà nước Chămpa.
Cư dân Sa Huỳnh - chủ nhân nền văn hóa nổi tiếng cùng
tên - là những cư dân biển thực thụ, căn cứ vào các hiện
vật khai quật được ở ven biển và các đảo, từ Bắc Trung Bộ
đến Đông Nam Bộ. Xa hon chút nữa về phía Nam (và có
lẽ muộn hon một chút) tại đồng bằng sông Cửu Long xuất
hiện nền "văn hóa Đồng Nai" và "văn hóa Phù Nam - ó c
Eo" (tên một cửa biển cũ, nay thuộc Kiên Giang). Hiện
nay, cư dân Chămpa và Phù Nam đều được coi là sắc dân
trong cộng đồng dân tộc Việt.
Tói thòi đại đồ đồng và đồ sắt sớm (cách nay khoảng
2.000-2.500 năm) nền văn hoá Đông Son ra đòi và phát
triển rực rỡ dựa trên nền tảng của cả một quá trình hội tụ
lâu dài từ những nền văn hoá trước đó.
Ngưòi ta khai quật được ngày càng nhiều hai sản
phẩm văn hóa rất đặc trimg của ngưòi Việt cổ là những
chiếc "trống đồng Đông Son" và "đồ gốm Việt", không
chỉ ở lục địa (Lào, Campuchia, Thái Lan, Nam Trung
Hoa) mà cả trên những hải đảo Đông Nam Á (Malaysia,
Indonesia) cho tói tận đảo Phục Sinh ngoài khoi Thái Bình
Dưong. Những phát hiện khảo cổ học ở Đông Nam Á
liên quan đến trống đồng trong rứiững năm qua cho thấy
những dòn
 





