TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VIỆN

Ảnh ngẫu nhiên

KIẾN THỨC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY

lỢI ÍCH CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

KĨ NĂNG AN TOÀN GIAO THÔNG

KHOA HỌC - KHÁM PHÁ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG

    CHÀO XUÂN MỚI


    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Mênh mông biển Việt

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Kiều Thị Thanh
    Ngày gửi: 17h:27' 15-11-2025
    Dung lượng: 15.6 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    THIÊN

    NHIÊN

    ĐÂT

    Nước

    TA

    HIÊN

    NHIÊN

    ĐẤT

    Nước

    NGUYỄN QUỐC TÍN - NGUYỄN HUY THANG - NGUYỄN NHƯ MAI

    BIEN VIẸT

    NHÀ X U Ấ T BẢN KIM Đ Ồ N G

    TA

    Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
    Nguyễn Quốc Tín
    Mênh mông biển Việt/ Nguyễn Quốc Tín, Nguyễn Huy Thắng,
    Nguyễn Như Mai. - H .: Kim Đổng. - 21 cm. - (Thiên nhiên đất nước ta)
    T.1.-2015.-192tr.
    ISBN 9786042058063
    1. Biển 2. Đảo 3. Việt Nam
    333.916409597-dc23
    KDL0106p-CIP

    Thiên nhiên đất nước ta - Mênh mông biển Việt - Tập 1
    © Nguyễn Quốc Tín, Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Như Mai
    Xuất bản theo Hợp đổng sử dụng tác phẩm
    giữa nhóm Tác giả và Nhà xuất bản Kim Đổng, 2015
    Bản quyền hình ảnh bìa, minh họa thuộc vể
    Nhà xuất bản Kim Đồng, 2015
    Vẽ bìa và minh họa; Nguyễn Doãn Sơn
    Trình bày bìa: Tô Hồng Thủy

    LỜI NÓI ĐẦU
    Non - Sông, Đất-Nước, Giang - Sơn - tổ hợp hai từ ấy, hai
    yếu tố ấy tạo nên một từ thiêng liêng: Tổ quốc.
    Tổ quốc không chỉ là khái niệm chung chung, mơ hồ, mà
    chính là sông là núi, là mảnh đất tổ tiên chúng ta đã tạo dựng
    nên, đã dùng sức lao động để tô điểm và dùng máu xương để
    bảo vệ.
    Càng hiểu và bịết về thiên nhiên đất nước, ta càng thêm yêu,
    thêm tự hào về Tổ quốc. Để có sự hiểu biết về non nước mình,
    chúng ta phải học trong nhà trường, đọc trong sách báo và trải
    nghiệm trong thực tế. Đồng thời, lại phải có ý thức thường xuyên
    bồi bổ các kiến thức về địa lí, về thiên nhiên rất cần thiết cho mỗi
    con người trong cuộc sống và cả trong công việc sau này. Bạn cân
    biết về cương vực, lãnh thổ đất nước khi muốn đi vào nghiệp
    văn chương, sử học, ngoại giao. Bạn cân thông thuộc địa hình,
    địa mạo khi làm quy hoạch hay kiến trúc. Bạn càng cân nắm rõ
    về sông, núi, biển, rừng của Tổ quốc nếu bạn làm nông nghiệp,
    khai thác tài nguyên hay thương m ại... Khỏi phải nói, trong
    cuộc sống hằng ngày, những kiến thức ấy giúp ích thê' nào khi

    bạn đi du lịch khám phá; sự hiểu biết sẽ làm cho bạn có ấn
    tượng sâu sắc hơn và thu lượm được nhiều điều bổ ích hơn sau
    mỗi chuyến đi...
    Bộ sách về thiên nhiên đất nước Việt Nam mà chúng tôi giới
    thiệu với bạn đọc, đặc biệt với các bạn trẻ, chính là nhằm đem
    đến những kiến thức bổ trợ giúp tàng cường vốn hiểu biết vê địa lí
    của bạn, và - điểu này mới là mục đích chính của bộ sách - nhằm
    khơi gợi tình yêu của mỗi người chúng ta đối với non sông đất
    nước mình, bắt đâu từ ý thức tìm hiểu và nhận biết rõ về sông, núi
    quê hương, biển, rừng Tổ quốc. Trước mắt, bộ sách sẽ bao gồm
    bốn cuốn về núi non, sông ngòi, rừng và biển.
    Mặc dù nhóm biên soạn đõ cố gàng sưu tầm tư liệu, cập
    nhật những thông tin mới và viết sao cho thấu đáo, dễ hiểu, dễ
    tiếp nhận, song chắc chân không tránh khỏi khiếm khuyết. Rất
    mong bạn đọc góp ý bổ khuyết cho bộ sách. Xin chân thành
    cảm ơn!

    N H Ó M BIÊN SO Ạ N

    BIỂN - TỪ KHÔNG

    đ Ến c ó

    Có một bài hát từ thuở lóp Một, ta đều nhớ nằm lòng:
    Trái đất này là của chúng mình
    Quả bóng xanh bay giữa trời xanh...
    Rồi ta lớn lên. Cùng vói cơ thể, trí não ta phát triển.
    Trí tò mò và sự khát khao hiểu biết thôi thúc ta vừa khám
    phá cái mói, vừa xem lại những kiến thức cũ, mà có khi là
    định kiến tù thuở ấu thơ để "chủih cho chuẩn". Bay lên
    tròi cao, các nhà du hành vũ trụ đầu tiên trở về cho hay,
    Trái đất xem ra không giống nhu lòi bài hát. Từ khoảng
    không xa xăm nhìn bằng mắt thường, Trái đất giống như
    một quả bưỏi màu da cam<^\ Không xanh, dù bề mặt Trái
    đất đa số là biển và rừng. Không tròn trịa, mà hai đầu hoi
    dẹt. Không nhẵn nhụi như quả bóng bay mà xù xì, lồi lõm.
    Sao vậy rứiỉ?
    Ta hãy quay trở lại quá khứ xa xưa của thòi hỗn mang.
    (1) Cảm nhận của Gagarin trong chuyến du hành vũ trụ đẩu tiên, khi ông nhìn Trái đất
    bằng mát thường. Nay, với những phương tiện kĩ thuật hiện đại, người ta có thể nhìn
    thấy đến từng ngôi nhà dưới mặt đất.

    THUỞ KHAI THIÊN LẬP ĐỊA
    K ột quá khứ xa lăng lắc, cách nay 4,5 tỉ năm. Bấy giờ,
    "giọt vũ trụ" bằng vật chất nóng đỏ, thành
    phần không đồng nhất bị văng ra khỏi vầng Thái dưong
    rực sáng, bắt đầu cuộc sống độc lập trong không gian
    bao la. Hàng tỉ năm trôi qua, nó vẫn quay mê mải, vẫn
    sôi sùng sục, vẫn phun phì phì như giận dữ, vung vãi
    ra xung quanh những mảnh nhỏ hon và đủ kiểu bức xạ.
    Khi quay xung quanh trục của nó, giọt chất lỏng đặc
    quánh ấy dần dần biến dạng thành hìiứi cầu do tác động
    của các định luật cơ học, nguội đi và đông đặc lại trong
    khi vẫn chuyển động trên một quĩ đạo hình elip quanh
    Mặt tròi đã sừứi ra mình.
    "Giọt chất lỏng" ấy chứih là Trái đất của chúng ta.
    Bao quanh nó là một lóp khí ga nóng rực. Lực hấp dẫn của
    Mặt tròi gây ra hiện tượng thủy triều trên bề mặt lóp chất
    lỏng quánh nhớt của hành tinh mói sữữi, nhưng bị cản trở
    một phần do lực ma sát nội của các khối macma tạo nên
    nó. Theo thòi gian, nó nguội đi, co lại, rồi rắn dần, hình
    thành một lóp vỏ cirng trên bề mặt, nhăn nheo, lồi lõm
    như một quả táo khô quắt chứ không tron nhẵn. Ruột nó
    vẫn lỏng (đúng ra gần như quánh, gọi là plasma) và nóng
    rực. Sự lồi lõm ấy cho ta có những hình dung đầu tiên về

    địa hình. Nói chung chỗ lồi sau sẽ thành núi, thành đồi,
    chỗ lõm sẽ là thung lũng, đáy hồ, đáy biển. Noi có độ cao
    trung gian sẽ thàrửi lục địa, noi phẳng phiu sẽ thàrửi đồng
    bằng, thảo nguyên.
    Hàng tỉ năm lại trôi qua, biết bao quá trình địa chất
    diễn ra ở cả trong ruột lẫn lóp vỏ aíng, đan xen nhau khiến
    địa hình thay đổi liên tục, rồi đến một thòi điểm nhất định,
    ta thấy nó như ngày nay trên "quả địa cầu" tròn xoe nhẵn
    bóng, m hình xarứì đỏ được thầy cô mang ra dạy trên lóp:
    một hình cầu tự xoay quanh một ữục nghiêng 23 độ 5, hai
    đầu hoi dẹt (đường kừih giữa hai cực Bắc Nam nhỏ hon
    đường kứih qua xích đạo 43 km)....
    Bao quanh hành tữứì non trẻ là một lóp khí hỗn tạp.
    Các khí nhẹ rứiư hidro thì một phần lớn "ữốn" khỏi sức
    hút Trái đất, khuếch tán vào vũ trụ; các khí nặng như
    cacbonic, hoi nước, nitơ... thì bị giữ lại, làm tấm áo che
    chắn hành tinh, bảo vệ nó khỏi cái nắng đỏ lửa từ Mặt tròi,
    ta gọi là bầu khí quyển.
    Hành tinh nguội dần đi. Hoi nước trong khí quyển
    đọng lại thành những đám mây khổng lồ chuyển động
    vần vũ trên bầu tròi.
    Đồng thòi vói các quá trình địa chất đang diễn ra
    mãrứi liệt ữong lòng Trái đất dưới lóp vỏ cứng, nhiệt độ
    bầu khí quyển hạ xuống dưói 100độ c. Hoi nước trở thành
    thể lỏng, bắt đầu xảy ra hàng loạt hiện tượng khác. Những
    trận bão lớn khủng khiếp, cuồng điên hoành hàĩữi dữ dội,
    suốt hàng ngàn hàng vạn năm ữên quả địa cầu. Và mưa.
    Mưa xối xả, mưa triền miên, mưa như trút nước. Những
    trận mưa không diít, không chỉ kéo dài hàng tuần, hàng

    tháng, hàng năm mà hàng thập kỉ, hàng thế kỉ, thậm chí
    ròng rã hàng thiên niên kỉ.
    Nước sao mà lắm thế! Nước ngấm vào lòng đất, len
    lỏi mọi noi thành các mạch ngầm. Những dòng nước
    lênh láng khắp chốn, tạo ra những con đại hồng thủy
    theo đúng nghĩa, vói những dòng thác lũ, cứ ào ạt, cuồn
    cuộn, sấn sổ đua nhau đổ từ chỗ cao xuống chỗ thấp, bất
    chấp mọi trở lực ngăn cản, cuốn theo những gì không
    trụ lại được, hòa tan những gì có thể hòa tan, bào mòn
    những gì có thể bào mòn...
    Diện mạo Trái đất thay đổi. Sông, suối hình thành.
    Nước có đường đi vạch sẵn, cứ theo đó mà đổ ra những
    vừng trũng lón, mênh mang, điền đầy dần và hình thành
    nên biển và đại dương.
    Ngưòi ta gọi đại dương là những vùng rộng lớn
    ăn thông vói nhau (như Thái Bình Dương), còn biển là
    những vùng hẹp hơn (như Biển Đông). Biển thông ra đại
    dương. Ví dụ Biển Đông thông ra Thái Bình Dương và
    Ấn Độ Dương. Nhiều khi hai khái niệm này cũng lẫn lộn
    và ngưòi ta thường gọi chung là biển. Nhúng một ngón
    chân xuống biển là ta đã được "nối liền" vói tất cả các đại
    dương, vì biển trên Trái đất là khoảng không gian mênh
    mông liên thông vói nhau. Trong thành ngữ dân gian,
    ngưòi ta thường hình dung thế giói rộng lớn là "năm châu
    bốn biển" thì biển ở đây chính là các đại dưong, mang tên
    Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương và Bắc
    Băng Dương.

    ĐẠI DƯƠNG VÀ BIỂN
    Trong bốn đại dương trên thế giới, Thái Bình Dương
    rộng nhất, diện tích 179,7 triệu kilômet vuông (chiếm
    khoảng 1/3 diện tích địa cầu, chứa 1/2 khối iượng nước
    của cả hành tinh). Tiếp đến Đại Tây Dương, cố diện tích
    102 triệu kilômet vuông với dòng hải lưu Gulf Stream sưởi
    ấm cho cả Tây Âu. Ấn Độ Dương đứng thứ ba với diện tích
    75 triệu kilômet vuông lốm đốm rất nhiều đảo san hô. Với
    diện tích chỉ 14,09 triệu kilômet vuông, Bắc Băng Dương
    nhỏ nhất và cũng hiền hòa nhất trong "bốn anh em nhà
    đại dương", giữa là một băng khối nổi. Khi khí hậu nóng
    lên, rất có thể khối băng này tan ra, gây ngập lụt toàn cầu
    và trở thành thảm họa của nhân loại. Ngoài ra, còn Nam
    Băng Dương với diện tích 20,327 triệu kilômet vuông, bao
    quanh châu Nam Cực, được đề xuất như một đại dương
    nhưng chưa được thừa nhận chung.
    Cùng với bốn đại dương là 70 biển. Các biển lớn nhất
    là biển San Hô, biển Đông, biển Caribean, Địa Trung Hải,
    biển Bering, biển Okhotsk, biển Nhật Bản, biển Andaman...
    Đa số biển liên thông với đại dương nhưng cũng cố những
    biển kín như biển Caspi, Aran không thông với đại dương
    nào, gọi là biển hồ. Nước ở biển hồ rất khác với nước đại
    dương. Một số biển theo thói quen gọi là vịnh như vịnh
    Hudson, vịnh Persic, vịnh Mexico. Biển chỉ chiếm trên 11 %
    diện tích các đại dương.

    NHỮNG CUỘC BỂ DÂU
    ịa hình của lóp vỏ Trái đất thay đổi không ngừng
    5ỊỊS^trong suốt mấy tỉ năm qua. Chỗ này trồi lên, chỗ
    kia sụt xuống, các mảnh lục địa chuyển dịch, lúc thì tách
    ra khỏi nhau, lúc lại sáp nhập vào hoặc điíng độc lập một
    cách tương đối. Các khối dung rửiam dưói lóp vỏ đã đông
    aíng của hành tữứi cũng không chịu nằm yên, liên tục
    "cựa quậy", tìm những chỗ xung yếu để phá bung ra và
    phun trào thành núi lửa...
    "Thần Đất" và "Thần Biển" cũng luôn bị lôi cuốn vào
    cuộc chiến giành giật lãnh thổ. Thủy triều tràn vào đất
    liền, xói lở bờ và khi rút, cuốn theo các khoáng chất vụn.
    Sóng xô bờ ngày đêm cùng vói các dòng hải lưu ven biển
    càng làm tăng sức phá hoại của nước. Chưa thỏa mãn vói
    sự công phá chứih diện, "Thần Biển" còn tung những đoàn
    quân mây gây mưa vào sâu ữong đất liền để tiếp tục cuộc
    chưửi phạt. "Đội quân mây" từ đại dương thường vẫn
    bảng lảng trên đầu chúng ta ấy, nặng những 3.000.000.000
    (3 tỉ) tấn cơ đấy! Những trận mưa nhỏ, những suối nước
    róc rách trong rừng núi, những con sông tưỏng như rất đỗi
    hiền lành... tất cả góp sức lại, họp thành những sức mạnh
    khủng khiếp, nghiền nát ngay cả những khối đá lớn thành
    cát sỏi và đất mịn, hòa tan các chất rồi cuốn chúng ra biển.
    Dòng Mississippi ở Mĩ cứ ba năm rưõl lại bóc đi một
    lượng vật liệu khỏi đất liền để đổ vào vịnh Mexico vói thể
    tích lên tói 1 km^. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra khắp

    noi noi, năm này qua năm khác. Các nhà địa lí Đan Mạch
    ghi lại: Năm 1696, một nhà thờ lớn đưọc khánh thành ở
    tửừi Agerhe cách bờ biển 650 m. Dường như không ưa
    thích (hay ngược lại, do quá yêu thích) ngôi nhà thờ mĩ lệ
    này, biển cứ tiến dần vào đất liền một cách thật kiên ữì, và
    đến năm 1858, tức sau hon thế kỉ rưõi, biển đã nhấn chìm
    nhà thờ, mang nó xuống lòng đại dương không để lại một
    dấu tích. Tính ra, trong suốt thòi gian ấy, mỗi năm, biển
    lấn chiếm tói hơn 4 m!
    Nói đâu xa, ngay Phố Hiến của nước ta (nay là thành
    phố Hưng Yên) cũng vậy. Noi đây từng là cảng biển sầm
    uất bậc nhất trong thế kỉ 17 - Thứ nhất kinh kì, thứ nhì Phố
    Hiến - như người ta vẫn nói. Nay cách biển tói gần 100 km!
    Một dẫn chiỉng khác: Cách nay hơn 300 năm, Mạc
    Ciiu, một thương nhân Trung Quốc phản đối triều đình
    nhà Thanh, sang khai hoang lập nghiệp ở Hà Tiên. Con
    ông là Mạc Thiên Tứ lập hội thơ Chiêu anh các, nổi tiếng
    vói 10 bài thơ Hà Tiên thập vịnh, ca ngợi 10 thắng cảnh
    noi đây. Trong đó, bài Kim Dữ lan đào vịrửi một hòn đảo
    chắn sóng ở ngoài khoi, thì nay đảo này đã gắn vào đất
    liền thành một ngọn núi - núi Kim Dữ. Xem ra, biển cũng
    "công bằng", lấy đi ở noi này thì lại đền bù noi khác.
    Có lẽ xuất phát từ hiện tượng này mà trong văn học
    Trung Quốc có thành ngữ "thương hải biến vi tang điền"
    (biển xanh hóa thành nương dâu) để chỉ những thăng
    trầm, thay đổi trong cuộc đòi. Mượn điển tích đó, Nguyễn
    Gia Thiều từng có câu thơ ai oán: "Trẻ tạo hóa đành hanh quá
    ngán / Ai bày trò bãi bể nương dâu?" (Cung oán ngâm khúc).

    Còn Nguyễn Du thì suy ngẫm về cuộc đòi: "Trải qua một
    cuộc bể dâu / Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" (Truyện
    Kiều).
    Song các biến đổi trong mối tương quan Đất - Biển
    đâu chỉ từ tốn kiểu "bãi bể, nương dâu" mà mãnh liệt hơn
    nhiều. Vì đó mói chỉ là những vận động cơ học (bồi và lở),
    chưa phải là những vận động kiến tạo học.
    Vận động kiến tạo thật dữ dội. Do các quá hình địa
    chất, các mảng lục địa xô đẩy vào nhau làm trồi lên núi
    cao, tách giãn khỏi nhau tạo nên biển cả. Các nhà khoa
    học khẳng định rằng, trong suốt 4,5 tỉ năm tồn tại của Trái
    đất, hầu hết mọi noi trên thế giói đều có một giai đoạn nào
    đó ngập chìm dưói các lóp sóng biển dạt dào. ở độ cao
    2.300 m trên dãy Himalaya, ngưòi ta đã tìm thấy những
    trầm tích đá vôi do vỏ ốc, xương và mai của các động vật
    biển tạo nên. Tương tự như vậy, khi lặn xuống đáy biển,
    người ta tìm thấy hóa thạch của các động vật chỉ sống ữên
    cạn, hài cốt các gia súc lớn, rửiững thân cây cổ thụ, những
    khối than bùn chỉ có thể hình thành trong các đầm lầy
    nước ngọt, thậm chí cả các vật dụng thô sơ do bàn tay con
    ngưòi tạo ra, chiíng tỏ khi trước đây từng là noi sũìh sống
    của ngưòi tiền sử.
    Một "dẫn chiíng sống" khác là nhiều động vật gốc
    gác sống dưói nước, nay đã thích nghi vói cuộc sống trên
    cạn và ngược lại, một số loài thú trên cạn sống sót khi bị
    biển nhấn chìm, đã tự biến đổi cấu tạo cơ thể để chấp nhận
    quê hương mói là đại dương (hải cẩu, hải tượng...).

    Các nhà khoa học đã chỉ ra cách đây 200 triệu năm,
    diện mạo các lục địa và đại dương khác hẳn. Chẳng hạn,
    Nam Mĩ từng gắn vói châu Phi thành một khối liền; nếu
    nhìn hai lục địa này trên bản đồ, dù ngày nay chúng bị
    ngăn cách bỏi Đại Tây Dưong mênh mông, ta vẫn có thể
    hình dung khóp được chiing vào vói nhau như hai miếng
    ghép của trò choi ghép hừửi. Lại có giả thuyết cho rằng,
    xưa kia từng tồn tại một lục địa mang tên Atlantis ở phía
    đông nam Brazil vói nền văn minh khá cao, nhưng rồi đã
    bị chìm dưói đại dương. Hiện nhiều nhà thám hiểm (kể cả
    các cơ quan khoa học các nước như Brazil, Nhật Bản) vẫn
    đang ra sức tìm kiếm và thủìh thoảng lại công bố những
    kết quả đáng tin cậy.
    Cho đến bây giờ, các châu lục vẫn tiếp tục "nhích"
    dần từng tí một để gần nhau hơn hoặc xa nhau hơn, vói
    tốc độ mỗi năm 1-2 cm. Chuyện nhỏ! - có thể bạn nghĩ.
    Song nếu đo thòi gian bằng đơn vị "triệu năm" thì lại là
    chuyện khác. Ví dụ 50 triệu năm nữa, vùng Sừng châu Phi
    sẽ tách ra khỏi châu lục, vùng Alaska của Mĩ sẽ dứửi vào
    Nga, bang Caliíomia sẽ ròi sang phía tây 300 km thành
    một hòn đảo và Địa Trung Hải có thể cũng không còn...
    Nhưng ta hãy tạm ngừng lan man về những "lộ truìh"
    phức tạp của biển tứứi bằng mức thang cả triệu năm để
    nói chuyện ngày nay, đặc biệt chuyện biển ở nước ta.

    sự HÌNH THÀNH BIỂN v i ệ t
    ri^ h á i Bình Dương là "anh cả" trong số bốn đại dương,
    ra đòi sóm nhất, trên 600 triệu năm, trong khi đó Đại
    Tây Dương có tuổi đòi trẻ hon, chừng 200 đến 300 triệu
    năm. An Độ Dương trẻ nhất, chỉ mói 160 triệu năm.
    Vào thuở Thái Bình Dương mói xuất hiện, vùng đất
    nay là nước ta chìm ngập dưới nước biển mêrửi mông. Lúc
    ấy, chỉ có một dải đảo nổi lên, nằm giữa sông Chảy và
    sông Hồng ngày nay, đó là dãy núi Con Voi ở phía bắc.
    Còn một hòn đảo lớn khác ở khu vực cao nguyên Kontum
    - Bôlôven ở phía nam.
    Chứih các lóp photphat canxi cùng vói bùn vôi ở
    vùng biển nông phía tây Lào Cai đã tạo thành mỏ apatit
    Cam Đường, mà từ nửa thế kỉ nay, chúng ta khai thác làm
    nguyên liệu cho ngành công nghiệp phân lân phục vụ
    nông nghiệp.
    Trái đất cứ tiếp tục những con vặn mình mãnh liệt.
    Các lóp đất đá uốn nếp, đùn đẩy nhau dâng cao thàrứi
    núi. Biển rút dần xuống về phía Mặt tròi mọc. Mặt biển
    lùi rất xa. Điều đó có nghĩa là cả vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái
    Lan và các vùng lân cận đều trở thành đất liền. Giả sử
    hồi ấy đã có loài ngưòi, nếu muốn sang thăm Malaysia,
    Indonesia bạn nhất thiết phải đi bằng đường bộ. Ngay cả
    dòng sông Hồng và cẻru Long thòi đó cũng chảy thẳng ra
    ngoài xa trên các thềm lục địa khô cạn, bằng chứng là hiện
    15

    nay chiing ta vẫn thấy có những thimg lũng ngầm của các
    dòng sông này dưói đáy biển.
    Rồi bỗng nhiên, biển lại quằn quại ữở mình, bước vào
    giai đoạn mói gọi là thòi kì "biển hến", ào ạt hon và cũng
    nhanh chóng hơn. Trong suốt 10.000 năm (cách đây 17.000
    đến 7.000 năm) nước biển dâng lên bao phủ vùng thềm
    lục địa và "san lại" cho nó bằng phăng hon. Vào khoảng
    6.000 năm đến 3.000 năm trước, mực nước đại dương cao
    hon mức hiện nay từ 1,5 đến 3 m (hoặc hon). Ngưòi ta biết
    được điều đó qua các dấu vết còn m đậm trên những đảo
    ở Thái Bình Dương, cũng như ở nhiều đảo thuộc vịrứi Hạ
    Long vẫn còn vết tích của những ngấn nước m lại từ buổi
    xa xưa đó. Dễ thấy hon là nhũng đống vỏ sò điệp chất cao
    thành gò rộng hàng vạn mét vuông mà những ngưòi Việt

    cổ đã đổ ra khi sứữi sống ở vùng Quỳnh Lưu (Nghệ An),
    cách xa bờ biển ngày nay khoảng 5-6 km.
    Ngay thủ đô Hà Nội xưa kia cũng từng là đáy biển.
    Sau khi biển rút, noi đây trở thành vùng đầm lầy, rồi
    rừng rậm, trước khi được phù sa bồi đắp và bàn tay
    con người cải tạo thành vùng đồng bằng sông Hồng trù
    phú. Những lóp than bùn ở Đông Anh, Từ Liêm có độ
    cao tưong đương mực nước biển hiện tại mách bảo cho
    ta điều đó. Phủ lên lóp than bùn tại địa điểm Hà Nội
    ngày nay là lóp phù sa sông Cái (tên cũ của sông Hồng)
    gồm đất sét và đất sét pha, trên cùng là đất thịt.
    Trải qua năm tháng, trên mảnh đất tiếp giáp vói Thái
    Bình Dương ấy, một quốc gia hình thành và phát triển,
    lưng dựa vào dải núi Trường Sơn chất ngất, mặt nhìn ra
    biển, lô xô những đảo nổi, đảo chìm. Trải qua rứiững bão
    tố, thăng trầm của nhiều nghìn năm lịch sử, quốc gia ấy
    vẫn đứng vững và đang vươn lên làm chủ vận mệnh của
    mình, hiên ngang vượt qua bao khó khăn thách thức để sát
    cánh cùng bè bạn năm châu hướng tói TƯONG LAI. Đó
    chừửi là đất nước Việt Nam của chiíng ta.

    17

    NHTOG TRANG sử
    VIẾT TRÊN BIỂN
    DẤU CHÂN VIỆT TRÊN BIỂN
    ''T^rên mảnh đất hình chữ s, phía đông cận kề vói biển,
    ^^MŨttông ra Thái B'ưứì Dưong, trong thòi kì "biển tiến"
    có một số tộc ngưòi nguyên thủy từ vùng trung du bắt đầu
    đến định cư. Họ ở trong các hang động có sẵn, sống bằng
    săn bắt và hái lượm, dùng cuội sông để chế tác công cụ lao
    động. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở vùng núi Đọ
    (Thanh Hóa), Quỳnh Văn (Nghệ An), Hạ Long (Quảng
    Nữih) và nhiều noi khác các di vật chiíng minh cho sự tồn
    tại của những cộng đồng người sống tập trung ở ven biển,
    cách nay trên dưói một vạn năm.
    Truyền thuyết và huyền thoại không phải là lịch sử,
    song sự tích Lạc Long Quân vốn dòng dõi Rồng, từ biển
    tói, diệt Ngư tình, Mộc tinh, Hồ tinh, khai sáng miền châu
    thổ sông Hồng đã nói lên rằng, đất nước ta từ buổi ban
    đầu lập quốc đã gắn liền vói biển cả. Câu chuyện Lạc Long

    Quân lấy Âu Cơ sinh bọc trăm tníng, rồi đưa 50 ngưòi con
    trai theo mẹ lên núi, 50 người theo cha xuống biển cùng
    nhiều câu chuyện khác vào đòi các vua Hùng, giúp ta
    hhứì dung ra quá trình phát triển dân tộc Việt thòi tiền sử.
    Họ đã từ các bộ tộc, tập họp thành một quốc gia sơ khai là
    Văn Lang. Các bộ tộc này có tổ tiên xa xưa là ngưòi Việt cổ,
    đã biết lọi dụng thủy triều dồn nước ngọt từ các sông ngòi
    vào đồng ruộng, rồi ngăn lại để trồng lúa nước. Đồng thòi
    họ cũng có cuộc sống gắn bó vói biển khoi. Họ không chỉ
    khai thác sản vật biển làm nguồn thức ăn giàu đạm hàng
    ngày, mà còn dùng những chiếc thuyền độc mộc hoặc bè
    mảng bằng thân tre ghép lại để vượt biển đến các hòn đảo
    xung quanh, thậm chí còn đến tận những vùng đất xa hơn
    nữa ở Đông Nam Á.
    Từ những tư liệu khảo cổ học về các nền văn hóa Đa
    Bút (Ninh Bình), Hạ Long (Quảng Ninh), Cái Bèo (Hải
    Phòng), Hoa Lộc (Thanh Hóa), Quỳnh Văn (Nghệ An),
    Thạch Lạc (Hà Tĩnh), Bàu Tró (Quảng Bình)... các nhà
    khoa học cho biết, khoảng 6.000 - 4.000 năm trước noi đây
    đã có các cộng đồng cư dân mà cuộc sống liên quan chặt
    chẽ vói biển. Ngưòi ta đã tìm thấy những "bãi rác bếp" rất
    lớn gồm vỏ sò điệp, các di vật như chỉ lưói và một số ngư
    cụ là những bằng chứng của nghề khai thác thủy sản dùng
    trong bữa ăn hàng ngày.
    Văn hóa Hạ Long có niên đại vào khoảng 4.000-3.500
    năm trước được các nhà nghiên cứu xếp vào giai đoạn hậu
    kì thòi đại đồ đá mói. Ngưòi tiền sử hồi đó đã chọn vùng
    biển đảo Đông Bắc Việt Nam - noi có nguồn hải sản dồi

    dào, lại có bãi biển và hang động thuận tiện - làm noi cư
    trú. Biển ở đó nông, độ sâu trung bình chỉ khoảng 10 m,
    vói 20 luồng lạch từ vịnh thông ra đại dương, dễ dàng
    tránh gió và ra khoi vào lộng. Ngưòi ta đã tìm được
    trong tầng văn hóa này những khúc xương cá to, ước
    đoán nặng hàng tạ và không sống ven bờ. Các cư dân
    còn biết đánh cá bằng lưói mà di vật còn lại là những
    hòn chì lưói khá nặng. Ngoài cá, nhiều loại hải sản khác
    cũng được khai thác vì khá nhiều vỏ rửiuyễn thể được
    tìm thấy khi khai quật.
    Không những đi biển giỏi, ngưòi cổ Hạ Long còn biết
    làm nông nghiệp. Trong đòi sống của họ có cả các nông
    cụ như cuốc, rìu... bằng đá, được chế tác bằng cách mài,
    cưa, khoan, đánh bóng... Họ nắm được kĩ thuật sản xuất
    đồ gốm bằng cách nhào đất vói vỏ nhuyễn thể giã nhỏ, rồi
    khắc vẽ các hoa văn lên sản phẩm trước khi mmg. Nghề
    trồng cây lấy sọi để đan lưói cũng là nghề thủ công phổ
    biến. Nghề mộc khá phát hiển vói mục đích đóng thuyền
    bè đi biển. Việc phát hiện ra khá lứiiều vật dụng gia đình
    bằng gốm và tầng văn hóa dày dặn đã chứng minh họ
    là những ngưòi định cư lâu dài, từng lập làng lập xóm.
    Chừửi những tộc ngưòi cổ ở Hạ Long đã góp một phần
    vào sự hình thàiứi dân tộc Việt hiện đại, tuy trước khi họ
    đến định cư, ữên vùng biển Đông Bắc nước ta đã có cư
    dân của các nền văn hóa sớm hon sinh tụ rứiư nền văn hóa
    Soi Nhụ, Cái Bèo.
    Trong khi ở miền Bắc nước ta đang thòi kì các vua
    Hùng vói nhà nước Văn Lang và nền "văn mữih sông
    20

    Hồng", thì tiến dần về phía Nam, tại miền Trung có "văn
    minh Sa Huỳnh" (tên một cửa biển ở Quảng Ngãi), ở vào
    "thòi đại của các kurung", tiền thân của nhà nước Chămpa.
    Cư dân Sa Huỳnh - chủ nhân nền văn hóa nổi tiếng cùng
    tên - là những cư dân biển thực thụ, căn cứ vào các hiện
    vật khai quật được ở ven biển và các đảo, từ Bắc Trung Bộ
    đến Đông Nam Bộ. Xa hon chút nữa về phía Nam (và có
    lẽ muộn hon một chút) tại đồng bằng sông Cửu Long xuất
    hiện nền "văn hóa Đồng Nai" và "văn hóa Phù Nam - ó c
    Eo" (tên một cửa biển cũ, nay thuộc Kiên Giang). Hiện
    nay, cư dân Chămpa và Phù Nam đều được coi là sắc dân
    trong cộng đồng dân tộc Việt.
    Tói thòi đại đồ đồng và đồ sắt sớm (cách nay khoảng
    2.000-2.500 năm) nền văn hoá Đông Son ra đòi và phát
    triển rực rỡ dựa trên nền tảng của cả một quá trình hội tụ
    lâu dài từ những nền văn hoá trước đó.
    Ngưòi ta khai quật được ngày càng nhiều hai sản
    phẩm văn hóa rất đặc trimg của ngưòi Việt cổ là những
    chiếc "trống đồng Đông Son" và "đồ gốm Việt", không
    chỉ ở lục địa (Lào, Campuchia, Thái Lan, Nam Trung

    Hoa) mà cả trên những hải đảo Đông Nam Á (Malaysia,
    Indonesia) cho tói tận đảo Phục Sinh ngoài khoi Thái Bình
    Dưong. Những phát hiện khảo cổ học ở Đông Nam Á
    liên quan đến trống đồng trong rứiững năm qua cho thấy
    những dòn
     
    Gửi ý kiến